Cần tháo gỡ vướng mắc xung quanh Nghị định 15 về an toàn thực phẩm

- 10:07 | 09/04/2019

(HQ Online) - Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm là một trong những văn bản về quản lý chuyên ngành mang tinh thần cải cách, thay đổi phương thức quản lý chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý rủi ro, quản lý nguy cơ... Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định mang tính đổi mới đột phá đó vẫn phát sinh những vướng mắc gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi thực hiện, đòi hỏi các bộ, ngành cần thống nhất tháo gỡ.

can thao go vuong mac xung quanh nghi dinh 15 ve an toan thuc pham 102701 Tiếp tục hướng dẫn thực hiện Nghị định 15 về an toàn thực phẩm
can thao go vuong mac xung quanh nghi dinh 15 ve an toan thuc pham 102701 Kiểm tra giảm theo Nghị định 15 về an toàn thực phẩm cần cơ sở dữ liệu
can thao go vuong mac xung quanh nghi dinh 15 ve an toan thuc pham 102701 Vẫn còn vướng khi thực hiện Nghị định 15
can thao go vuong mac xung quanh nghi dinh 15 ve an toan thuc pham 102701 Điều khoản chuyển tiếp trong Nghị định 15 thực hiện như thế nào?
can thao go vuong mac xung quanh nghi dinh 15 ve an toan thuc pham 102701
Công chức Hải quan TPHCM kiểm tra thực phẩm nhập khẩu. Ảnh: T.H.

Vướng khi áp dụng phương thức kiểm tra giảm

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định 15, để được áp dụng phương thức kiểm tra giảm thì tổ chức, cá nhân phải có lô hàng, mặt hàng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 17 Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Cụ thể: Đã được xác nhận đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm nơi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước đã ký kết Điều ước quốc tế thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm mà Việt Nam là thành viên; có kết quả kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền nước XK đối với lô hàng, mặt hàng phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam; đã có 3 lần liên tiếp trong vòng 12 tháng đạt yêu cầu NK theo phương thức kiểm tra thông thường; được sản xuất trong các cơ sở áp dụng một trong các hệ thống quản lý chất lượng GMP, HACCP, ISO, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương.

Theo Tổng cục Hải quan, vướng mắc đã phát sinh khi áp dụng các điều kiện để được áp dụng phương thức kiểm tra giảm. Bởi hiện tại các bộ vẫn chưa gửi danh sách các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền các nước đã ký kết Điều ước quốc tế thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm mà Việt Nam là thành viên để làm cơ sở áp dụng phương thức kiểm tra giảm cho DN.

Đối với điều kiện 3 lần liên tiếp trong vòng 12 tháng đạt yêu cầu NK theo phương thức kiểm tra thông thường, cơ quan Hải quan không có cơ sở để xác định lô hàng, mặt hàng thế nào là 3 lần liên tiếp trong vòng 12 tháng đạt yêu cầu NK theo phương thức thông thường. Do đó, thời gian qua Tổng cục Hải quan đã có một số văn bản đề nghị các bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương chỉ đạo các cơ quan kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm NK cung cấp kịp thời cho Tổng cục Hải quan các danh mục sản phẩm hàng hóa (kèm mã số HS) và danh sách các tổ chức, cá nhân (kèm mã số DN) đáp ứng đủ điều kiện được áp dụng phương thức kiểm tra giảm để đưa vào cơ sở dữ liệu quản lý phân luồng. Tuy nhiên đến nay Tổng cục Hải quan mới chỉ nhận được 7 đơn vị (trong số 46 đơn vị kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm được 3 bộ chỉ định) thông báo các tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hóa được áp dụng phương thức kiểm tra giảm cho cơ quan Hải quan.

Liên quan đến điều kiện: Được sản xuất trong các cơ sở áp dụng một trong các hệ thống quản lý chất lượng GMP, HACCP, ISO, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương, Tổng cục Hải quan cho biết, cơ quan Hải quan không đủ cở sở để xác định bản sao chứng thực hoặc bản chính hợp pháp hóa lãnh sự một trong các giấy GMP, HACCP, ISO, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương để đưa vào danh sách kiểm tra giảm. Tổng cục Hải quan đã từng có văn bản đề nghị các bộ hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết hiện tại chưa có văn bản nào quy định về vấn đề này nên chỉ có thể xem xét cụ thể loại chứng nhận được xuất trình kèm hồ sơ đăng ký NK để đánh giá và kết luận. Điều này gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi thực hiện.

Thống nhất trường hợp miễn “tự công bố sản phẩm” và miễn kiểm tra nhà nước

Trường hợp được miễn “tự công bố sản phẩm” và miễn kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm NK quy định tại Khoản 2 Điều 4 và Khoản 7 Điều 13 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan khi thực hiện cũng phát sinh vướng mắc.

Theo Khoản 2 Điều 4: “Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước được miễn thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm”.

Khoản 7 Điều 13 quy định: “Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, NK chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng XK hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước.” thuộc đối tượng miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm.

Theo Tổng cục Hải quan, với các quy định trên khi NK nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm mà sản phẩm đó tiêu thụ tại thị trường trong nước có được miễn tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm hay không?

Thực tế trong thời gian thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP đã phát sinh trường hợp DN làm thủ tục NK số lượng lớn nguyên liệu để sản xuất sản phẩm tiêu thụ nội địa được miễn thủ tục tự công bố sản phẩm và miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Do vậy, để đảm bảo thực hiện đúng quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan đã có văn bản đề nghị 3 bộ trao đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, hiện có hai quan điểm khác nhau giữa 3 bộ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu quan điểm: Không được miễn tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Bộ Công Thương, Bộ Y tế thì cho rằng được miễn tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Theo quan điểm của Tổng cục Hải quan, nguyên liệu NK để sản xuất ra sản phẩm mà sản phẩm đó được XK, phục vụ tiêu thụ trong nội bộ DN, hoặc tiêu thụ tại thị trường trong nước đều được miễn tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, để thực hiện, Tổng cục Hải quan cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có ý kiến thống nhất về vấn đề này.

Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan cũng gặp vướng mắc liên quan đến việc kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với động vật, sản phẩm động vật thủy sản. Cụ thể là việc áp dụng mẫu số 11TS-Giấy chứng nhận kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK dùng làm thực phẩm và mẫu số 10TS-Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK.

Theo quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP mặt hàng động vật, sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản thuộc đối tượng kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trong khi theo Thông tư 15/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì mặt hàng động vật, sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản thuộc đối tượng phải kiểm dịch. Trên cơ sở đó, cơ quan Hải quan căn cứ kết quả ghi trên Giấy chứng nhận kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK dùng làm thực phẩm theo mẫu số 11TS ban hành kèm theo Thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT để giải quyết thủ tục thông quan hàng hóa.

Tuy nhiên, theo quy định tại Thông tư 36/2018/TT-BNTPTNT thì mẫu số 11TS-Giấy chứng nhận kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK dùng làm thực phẩm đã được thay thế bằng mẫu số 10TS-Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK; mẫu số 10TS này không có nội dung chứng nhận về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Để đảm bảo thực hiện đúng quy định, Tổng cục Hải quan đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm có hướng dẫn thực hiện việc kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các lô hàng động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK. Tổng cục Hải quan cho rằng việc áp dụng mẫu Giấy chứng nhận vừa kiểm dịch vừa kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo mẫu số 11TS ban hành kèm theo Thông tư 26/2016/TT-BNTPTNT là phù hợp, đáp ứng tinh thần của các Nghị quyết 19/NQ-CP. Trong khi chờ ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để tháo gỡ khó khăn cho DN, cơ quan Hải quan cho biết sẽ căn cứ Thông báo kết quả kiểm dịch theo mẫu số 10TS để giải quyết thông quan đối với lô hàng động vật, sản phẩm động vật thủy sản NK, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm đối với các lô hàng đã được thông quan.

Ngọc Linh