Linh thiêng cột cờ Lũng Cú

- 09:22 | 29/04/2019

(HQ Online) - Nơi tôi đang đứng là cột mốc 422, thuộc thôn Séo Lủng, xã Lũng Cú, huyện Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi được ví như mái nhà của đất nước, với cảm giác thật xúc động, tự hào...

linh thieng cot co lung cu 103749
linh thieng cot co lung cu 103749
Lá cờ Tổ quốc được trao cho đại diện một đoàn khách. Ảnh: DN.

Cứ mỗi lần được xem hình ảnh hay nghe bạn bè, đồng nghiệp nhắc tới cột cờ Lũng Cú- nơi địa đầu Tổ quốc nằm trên địa phận tỉnh Hà Giang, tôi đều có cảm giác háo hức, mong một lần được kính cẩn nghiêng mình đứng dưới ngọn cờ thiêng, chào Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp.

Theo lời những người đã từng đặt chân đến đỉnh Lũng Cú nhiều năm trước, để vượt được chặng đường hơn 20 km từ thị trấn Đồng Văn lên tới Lũng Cú phải mất vài tiếng đồng hồ do đường sá đi lại khó khăn. Tuy nhiên, những năm gần đây, với sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự đầu tư của Ðảng, Nhà nước đối với các đồng bào vùng cao nói chung và bà con các dân tộc thiểu số ở Lũng Cú nói riêng, Lũng Cú đã có nhiều đổi thay. Từ năm 2001, đường từ huyện Ðồng Văn lên Lũng Cú được nâng cấp, trải nhựa. Dòng điện quốc gia đã thắp sáng mảnh đất địa đầu, cuộc sống bà con nơi đây cũng dần ấm no hơn trước.

Đường lên Cột cờ quốc gia Lũng Cú được xây dựng với tổng số 839 bậc thang, chia làm 3 chặng. Chặng đầu tiên 425 bậc, kéo dài từ chân núi lên vị trí nhà chờ. Chặng thứ 2 gồm 279 bậc, từ vị trí nhà chờ lên đến chân cột cờ. Chặng thứ ba, từ chân cột cờ, du khách men theo những bậc thang hình xoắn ốc, để leo lên đỉnh cột cờ với 135 bậc. Càng lên cao, cảnh đẹp của Lũng Cú càng trở nên kỳ vỹ, khiến bất kỳ ai trong đoàn chúng tôi cũng đều phải thốt lên với cảm giác choáng ngợp.

Và sau giây phút định thần, lấy lại sức khi vừa vượt qua một chặng đường tuy ngắn nhưng khá mệt, tôi bắt đầu chầm chậm ngắm nhìn lá cờ Tổ quốc cuồn cuộn bay trong gió. Ở nơi địa đầu đất nước, trong ánh mặt trời dịu nhẹ của buổi chiều tà với gió thổi ràn rạt, hình ảnh lá cờ Tổ quốc thật thiêng liêng, bất giác nghe tiếng trống ngực rộn ràng như tiếng trống hào hùng của cha ông xưa và thêm tự hào về mảnh đất tươi đẹp.

linh thieng cot co lung cu 103749
Lá cờ Tổ quốc được trao cho đại diện một đoàn khách. Ảnh: DN.

Khi phóng tầm mắt ra xa, tôi cảm nhận sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người nơi miền biên ải thật tuyệt diệu với xa xa là thung lũng Thèn Ván thăm thẳm và đầu nguồn sông Nho Quế tuyệt đẹp, nước xanh mát đang ì ầm mạch nguồn về xuôi. Xen lẫn cảnh đẹp kỳ vĩ ấy là khói lam chiều tỏa ra từ những nếp nhà cổ kính của người dân bản Lô Lô Chải hiền lành, chăm chỉ, nghĩa tình.

Tự nhiên trong tâm thức chợt nhớ tới lời của một nhà văn nào đó đã từng nói, là người Việt Nam, nếu chưa một lần được đứng trên đỉnh Lũng Cú để ngắm lá cờ của Tổ quốc, kể ra vẫn thiếu thiếu cái gì đó.

Cõ lẽ, những ai đặt chân đến Cột cờ Lũng Cú, chắc hẳn sẽ không quên câu chuyện nhuốm màu huyền thoại về đỉnh Lũng Cú mà cô thuyết minh viên duyên dáng vẫn thường kể mỗi khi có du khách đến thăm. Chuyện kể rằng, Lũng Cú là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc, trong đó nhiều nhất là đồng bào Mông và Lô Lô.

Lũng Cú có nhiều tên gọi, theo cách gọi dân dã, mộc mạc của đồng bào dân tộc Mông, thì Lũng Cú là Lũng ngô (vì theo tiếng Mông, cú có nghĩa là ngô). Còn đồng bào dân tộc Lô Lô thì gọi Lũng Cú là Long Cư - nơi rồng ở theo phiên âm tiếng Hán. Tương truyền rằng, khi xưa, rồng tiên xuống trần gian du ngoạn, yêu mến cảnh sắc tuyệt vời ở nơi đây, mà đậu xuống ngọn núi trước làng, chính là ngọn núi Rồng ngày nay.

Yêu mến mảnh đất này, nhưng rồng tiên cũng nhận thấy cuộc sống của người dân nơi đây vô cùng cực khổ, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, nên trước khi về trời, rồng tiên động lòng trắc ẩn, đã để hai con mắt của rồng tại nơi này. Và hai mắt rồng đã hóa thành hai hồ nước ngọt ở hai bên chân núi. Một hồ nước của làng Thèn Pả (thuộc làng dân tộc Mông) và một hồ nước của làng dân tộc Lô Lô.

Nhờ có 2 hồ nước ngọt này mà cuộc sống của người dân nơi đây đã bớt phần vất vả. Điều kỳ diệu là, dù thời tiết có khô hạn thế nào, nước ở hai hồ này không bao giờ cạn.

Cùng với truyền thuyết về núi Rồng của cô hướng dẫn viên, chúng tôi còn được nghe câu chuyện lịch sử đầy oai hùng về Cột cờ Lũng Cú từ một chiến sỹ của Đồn Biên phòng Lũng Cú. Theo sử sách ghi lại, di tích Cột cờ Lũng Cú ra đời từ thời Lý. Khi xưa, Thái úy Lý Thường Kiệt hội quân về trấn ải vùng đất biên thùy, đã cho cắm một lá cờ trên đỉnh núi Rồng, để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta. Nhờ cột cờ này, mà suốt chiều dài lịch sử, mảnh đất biên ải nơi cực Bắc được tồn tại đến hôm nay.

Cột cờ Lũng Cú được xây dựng như ngày nay nhuốm một màu sắc huyền sử thiêng liêng. Tương truyền, cột cờ bắt đầu được xây dựng từ thời Lý Thường Kiệt, làm từ cây sa mộc cao trên 10 mét. Năm 1887, thời Pháp thuộc, cột cờ được xây lại và trải qua nhiều lần trùng tu với độ cao và kích thước khác nhau.

Năm 1978, thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân ở chân núi có thể nhìn thấy, đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn đã nảy ra ý định xây cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn. Lá cờ đỏ sao vàng rộng 54 mét vuông (chiều dài 9m, chiều rộng 6m) tượng trưng cho 54 dân tộc anh em trên khắp mọi miền Tổ quốc đã chính thức tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú ngày 12/8/1978.

Những năm về sau, cột cờ được trùng tu nhiều lần, ngày càng mở rộng về quy mô, kích thước. Theo thiết kế mới, cột cờ ngày nay chính thức được xây dựng với tổng chiều cao 33,15 mét, trong đó chân cột cao 20,25 mét, cán cờ cao 12,9 mét, đường kính ngoài chân cột rộng 3,8 mét. Cột cờ được thiết kế hình bát giác giống cột cờ Hà Nội, 8 mặt chân cột mô phỏng hoa văn trống đồng Đông Sơn và minh họa những thời kì lịch sử khác nhau của đất nước. Cột cờ mới hình bát giác, có độ cao trên 30m được khánh thành ngày 25/9/2010. Dưới chân cột cờ có 8 bức phù điêu bằng đá xanh, trên 8 bức phù điêu là những hình ảnh minh họa quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta, đan xen vào đó là các nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc ở Hà Giang. Phía trên 8 bức phù điêu có gắn 8 mặt trống đồng, vừa là biểu trưng của văn hóa Việt Nam, vừa để nhớ đến tiếng trống của vua Quang Trung khi xưa, để con cháu ngàn đời sau nhớ đến công dựng nước của ông cha ta ngày trước.

Khi một số thành viên trong đoàn có thắc mắc công tác bảo vệ tại cột cờ Lũng Cú, cô hướng dẫn viên bản địa cho rằng, hiện nay, tại Đồn Biên phòng Lũng Cú có một trạm chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ lá cờ trên Cột cờ Lũng Cú và do sức gió trên đỉnh Lũng Cú rất mạnh khiến cờ dễ hư hỏng do vậy cứ khoảng 1 tuần hoặc lâu nhất là 10 ngày cờ lại được thay mới.

Những lá cờ cũ được giữ lại làm quà tặng cho những đoàn khách đặc biệt đặt chân đến đây. Và thật may mắn với những đoàn khách nào nhận được lá cờ Tổ quốc bởi đây là món quà mang ý nghĩa thiêng liêng đối với bất cứ người con đất Việt nào. Và với những cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Lũng Cú, việc canh gác, bảo vệ lá cờ cũng như bảo vệ biên giới là vinh dự vô cùng lớn lao.

Qua quan sát, tôi nhận thấy rất nhiều đoàn khách khi đến với cột cờ Lũng Cú đều chuẩn bị những trang phục rất đặc trưng, đó có thể là đồng phục ngành nghề họ đang làm việc, hoặc những chiếc áo mang cờ đỏ sao vàng rực rỡ, kính cẩn nghiêng mình đứng hát quốc ca dưới cờ Tổ quốc. Hành động vừa đẹp vừa bình dị ấy thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự hào và tự tôn dân tộc sâu sắc.

Càng nghe, càng hiểu hơn về mảnh đất Lũng Cú, tôi càng cảm thấy mình thật may mắn và tự hào khi được sinh ra trong hoàn cảnh đất nước không còn chiến tranh, được đứng dưới lá cờ Tổ quốc, cất vang bài hát Quốc ca thiêng liêng. Và trên hết là sự biết ơn thế hệ cha ông đi trước đã hi sinh xương máu để có được nền độc lập, hòa bình, tự do, hạnh phúc cho cháu con hôm nay.

D.Ngân