Quanh việc DN Minh Giang kiện Hải quan Đà Nẵng: Bài 2: Hải quan phân loại dựa trên căn cứ nào?

- 08:00 | 26/05/2019

(HQ Online) - Trong vụ DN tư nhân Minh Giang kiện Cục Hải quan Đà Nẵng, có ý kiến cho rằng căn cứ để cơ quan Hải quan xác định mã hàng hóa rất chung chung, không ghi rõ căn cứ vào điểm nào, mục nào... Tuy nhiên, thực tế, căn cứ phân loại của cơ quan Hải quan là rất rõ ràng!

vu dn tu nhan minh giang kien hai quan da nang bai 2 hai quan phan loai dua tren can cu nao
Cơ quan Hải quan khi thực hiện phân loại hàng hóa XNK đều phải căn cứ những quy định của pháp luật. Ảnh: M.Hùng

 

vu dn tu nhan minh giang kien hai quan da nang bai 2 hai quan phan loai dua tren can cu nao Tổng cục Hải quan phản hồi về một văn bản bị nghi ngờ là giả

Cơ sở phân loại rõ ràng

Theo phân tích của lãnh đạo Cục Thuế XNK (Tổng cục Hải quan), cơ quan Hải quan khi thực hiện phân loại hàng hóa XNK đều phải căn cứ những quy định của pháp luật.

Theo giải trình của DN tư nhân Minh Giang, các hàng hóa nêu trên có thể được liên kết với nhau tạo thành từng chuỗi liên kết hoàn chỉnh, dùng cho mục đích nâng hạ các vật có trọng lượng khác nhau. Tuy nhiên, trên cơ sở hồ sơ tài liệu, thông tin của nhà sản xuất và thực tế sử dụng cho thấy các mặt hàng móc cẩu, mắt nối xích, vòng xích chủ và móc thu ngắn xích không phải là các bộ phận của xích được tháo rời (theo một thiết kế nhất định) mà là các phụ kiện đi kèm. Do đó, các mặt hàng nêu trên được phân loại như các mặt hàng riêng biệt.

Theo quy định hiện hành tại Khoản 1 Điều 26 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, Điều 16 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 4 Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/1/2015: Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số duy nhất của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Trường hợp thực hiện phân loại hàng hóa nhưng chưa xác định được mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thì tiếp tục sử dụng các tài liệu quy định ở Điều 6 Thông tư số 14/2015/TT-BTC bao gồm: Chú giải chi tiết Danh mục HS; Tuyển tập ý kiến phân loại của WCO; Chú giải bổ sung Danh mục AHTN; và Cơ sở dữ liệu về Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Trong đó đặc biệt là Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 103/2015/TT-BTC ngày 1/7/2015 của Bộ Tài chính có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2017. Danh mục này được xây dựng tuân thủ hoàn toàn Danh mục HS của Tổ chức Hải quan thế giới (ở cấp độ 6 số) và Danh mục Hài hòa thuế quan của ASEAN (ở cấp độ 8 số).

Riêng trong việc phân loại mặt hàng xích, bộ phận của xích, phụ kiện của xích, ngoài nội dung tại Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, chú giải chi tiết HS và Tuyển tập ý kiến phân loại của WCO đối với các nhóm có liên quan như sau:

Chú giải chi tiết Nhóm 73.15 “Xích và các bộ phận của xích, bằng sắt hoặc thép”: Tất cả những loại xích này có thể được gắn với các bộ phận hoặc các phụ tùng cuối cùng (ví dụ các móc, móc lò xo, khớp mắt xích, vòng kẹp, ống nối, vòng đai, các vòng vẩy dầu và các chi tiết chữ T). Chúng có thể hoặc không được cắt theo chiều dài, hoặc đã được định sẵn một cách rõ ràng cho các sử dụng đặc biệt.

Các bộ phận rời bằng sắt hoặc thép của các loại xích chuyên dụng theo đúng nghĩa ví dụ như các mắt nối lề, con trượt, vít ép,... đối với xích được nối bản lề, mắt nối và vòng kẹp đối với xích không được nối bản lề, cũng thuộc vào nhóm này.

Như vậy, nhóm 73.15 bao gồm các sản phẩm là bộ phận chuyên dụng, có thể được định sẵn một cách rõ ràng cho việc sử dụng cho loại xích thuộc nhóm 73.15.

Chú giải chi tiết Nhóm 73.26 “Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép”. Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm bằng sắt hoặc thép thu được bằng cách rèn hoặc dập, bằng cách cắt hoặc dập nổi hoặc bằng các phương pháp khác như uốn nếp, lắp ráp, hàn, tiện, nghiền tán hoặc đục lỗ trừ các sản phẩm thuộc các nhóm trên của chương này hoặc được bao hàm bởi chú giải 1 cho phần XV hoặc thuộc chương 82 hoặc 83 hoặc được bao hàm cụ thể hơn ở nơi khác trong Danh mục.

Nhóm này bao gồm: ...các thiết bị treo và nối cho các chuỗi sứ (thanh treo, vòng kẹp, phần nối thêm, lỗ xâu hoặc các vòng với mối ghép đinh tán, ổ khớp cầu, vòng kẹp để treo, đinh kẹp cụt một đầu...các loại móc đã rèn,... cho cần cẩu; móc có lò xo cho tất cả các mục đích; ...

Như vậy, phạm vi nhóm 73.26 bao gồm các mặt hàng được xác định là phụ kiện của xích

Bên cạnh đó, tại tuyển tập ý kiến phân loại của Tổ chức Hải quan thế giới năm 2017, mặt hàng có tên thương mại Mắt nối xích “Connecting link”, là một phụ kiện của xích, đã được hướng dẫn phân loại phù hợp vào Nhóm 73.26.

Trên cơ sở áp dụng các quy định về phân loại nêu trên, các mặt hàng xích, bộ phận của xích và phụ kiện của xích được phân loại như sau:

Các mặt hàng là bộ phận của xích thì phù hợp phân loại vào nhóm 73.15 "Xích và các bộ phận của xích, bằng sắt hoặc thép", phân nhóm 7315.90 "-các bộ phận khác"

Các mặt hàng là phụ kiện của xích thì phù hợp phân loại thuộc nhóm 73.26 “Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép”, phân nhóm 7326.90 “- Loại khác”.

Hướng dẫn có mâu thuẫn?

Với ý kiến cho rằng, tại Công văn số 5342/TCHQ-TXNK ngày 8/6/2016 của Tổng cục Hải quan gửi các cục hải quan tỉnh, thành phố đã xác định “sản phẩm mắt nối xích bằng thép (không có ren) thường được sử dụng nối giữa hai mắt xích, thuộc nhóm mã 7315.90.90”. Nay tại Công văn số 5048/BTC-TCHQ trả lời Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng lại phân các sản phẩm này thuộc nhóm 73.26.

Theo phân tích của lãnh đạo Cục Thuế XNK, tại công văn số 5342/TCHQ-TXNK ngày 8/6/2016 có hướng dẫn phân loại các mặt hàng: Mặt hàng Ma ní - tên Tiếng Anh: Kenter shackles, là sản phẩm mắt nối xích bằng thép (không có ren) thường được sử dụng nối giữa hai mắt xích, thuộc mã số 7315.90.90.

Mặt hàng Ma ní Kenter shackles được xác định là bộ phận của xích, dùng để nối các mắt xích với nhau. Trong khi đó mặt hàng móc nối xích Connecting link là phụ kiện của xích, thường dùng trong bộ xích cẩu hàng, để nối xích, nối xích với móc cẩu, nối xích với vòng chủ. Do vậy, hai mặt hàng Kenter shackles và Connecting link nêu trên có bản chất, công dụng khác nhau.

Các mặt hàng từ mục 08 đến 42 trong tờ khai là các phụ kiện, không phải bộ phận của xích nên không đủ điều kiện áp dụng quy tắc 2(a) đối với các mặt hàng dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời.

Phản hồi ý kiến cho rằng các mặt hàng do CDN tư nhân Minh Giang nhập khẩu từ mục số 08 đến 42 trong tờ khai hải quan không có tên gọi, không được mô tả trong nhóm 73.26 nhưng tại công văn số 5048 đưa vào mã 73.26 là trái với “Công ước quốc tế về Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa HS” mà Việt Nam đã tham gia; Vi phạm khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính, đại diện Cục Thuế XNK cho biết, nhiều mặt hàng không được định danh cụ thể trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, các mặt hàng này được phân loại vào loại khác. Các mặt hàng từ mục số 08 đến 42 trong tờ khai hải quan do DN tư nhân Minh Giang nhập khẩu thuộc Chương 73 “Các sản phẩm bằng sắt hoặc thép”, nhưng chưa được chi tiết tại nơi khác, nên phù hợp phân loại thuộc nhóm 73.26 “Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép”.

Thu Trang