Tổng cục Hải quan trả lời về phân loại dầu cá dạng lỏng

- 13:42 | 08/09/2018

(HQ Online)- Các tài liệu xác nhận về an toàn thực phẩm hay kiểm dịch động vật của nước XK đối với hàng hóa NK vào Việt Nam là các tài liệu tham khảo, không phải là căn cứ để phân loại hàng hóa NK theo quy định.

tong cuc hai quan tra loi ve phan loai dau ca dang long

Ảnh minh họa.


Đó là phản hồi của Tổng cục Hải quan trước đề nghị của công ty cổ phần Hóa chất Á Châu xem xét lại kết quả phân tích và mã số hàng hóa đối với mặt hàng dầu cá dạng lỏng.

Phân tích về căn cứ phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tổng cục Hải quan cho biết, theo quy định hiện hành tại  Thông tư số 14/2015/TT-BTC thì một mặt hàng chỉ có một mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Đối với việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với một số trường hợp đặc biệt, Tổng cục Hải quan cho biết, trường hợp thực hiện phân loại hàng hóa theo quy định tại Điều 4 Thông tư này nhưng chưa xác định được mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa XK, NK Việt Nam thì sử dụng các tài liệu sau: “Chú giải chỉ tiết Danh mục HS; Tuyển tập ý kiến phân loại của WCO; Chú giải bổ sung Danh mục AHTN; Cơ sở dữ liệu về Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam."

Đối chiếu các quy định trên đây thì các tài liệu xác nhận về an toàn thực phẩm hay kiểm dịch động vật của nước XK đối với hàng hóa NK vào Việt Nam là các tài liệu tham khảo, không phải là căn cứ để phân loại hàng hóa nhập khẩu theo quy định.

Với nội dung DN nhận định "không đúng bản chất một mặt hàng chỉ có một mã số duy nhất", Tổng cục Hải quan phân tích, các Thông báo kết quả phân tích kèm mã số hàng hóa số 1606/TB-CNHP ngày 28/4/2016, 1774/TB-KĐ3 ngày 29/9/2017, Thông báo kết quả phân loại số 550/TB-TCHQ ngày 20/01/2016 của Tổng cục Hải quan của các mặt hàng có tên khai báo "Dầu cá dạng lỏng MEG-3’30’ N-3 Food”, “nguyên liệu dược Meg+3 1812 TG oil”, “Dầu cá ngừ tinh luyện”; Kết quả phân tích “Dầu cá đã tinh chế, dạng lỏng, trong đó hàm lượng EPA (11,53%), DHA (6,01%), chỉ số axit là 0,21mgKC)H/g chất béo”. 

Như vậy, các mặt hàng tại các thông báo nêu trên có tên khai báo và kết quả phân tích khác với mặt hàng đang xem xét nên việc doanh nghiệp nhận định “không đúng bản chất một mặt hàng chỉ có một mã số duy nhất” là không chính xác.

Riêng về thuật ngữ “Chế phẩm ăn được” theo Danh mục hàng hóa XK, NK Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 103/2015/TT-BTC  của Bộ Tài chính thì không phải những chế phẩm ăn được trực tiếp mới là "chế phẩm ăn được" mà là những chế phẩm mà con người có thể ăn được, có thể ăn trực tiếp hay phải qua chế biến. Vì vậy, việc DN cho rằng mặt hàng cần phải chế biến tiếp, không ăn trực tiếp nên không phải là chế phẩm ăn được là không phù hợp.

Theo đó, mặt hàng khai báo “Dầu cá dạng lỏng - MEG- 3 (TM) '15' N- 3 Emulsion LV - Nguyên liệu thực phẩm” có kết quả phân tích là chế phẩm ăn được dạng nhũ tương, ngoài thành phần dầu cá ( ~ 50%) còn có nước ( ~ 44%), chất nhũ hóa sodium caseiante, dipotassium orthophosphate...., màu trắng sữa, phù hợp thuộc nhóm 15.17, phân nhóm " - Loại khác", mã số 1517.90.90 "- - Loại khác", thuế suất thuế NK ưu đãi 30%.

Thu Trang